Fred Perry

CÂU CHUYỆN CỦA JEAN RENE LACOSTE VÀ FRED PERRY

Đây là câu chuyện về hai quý ông đã ghi lại dấu ấn của mình trong làng “banh nỉ” và thời trang. Jean René Lacoste và Fred Perry là hai ngôi sao sáng với những thành tựu mà họ đạt được. Không chỉ là những người giữ vị trí số một thế giới trong môn tennis, cả hai cùng là những người đã tạo ra một thiết kế mới và đi vào lịch sử thời trang bởi chiếc áo phông polo.

Sự nghiệp Tennis.

Volume 2. Page 20. Picture 11. Tennis: Rene Lacoste.

Lacoste được sinh ra trong một gia đình giàu có vào năm 1904. Quãng thời thiếu niên, Lacoste không hề chơi tennis và chỉ đến khi 15 tuổi, bất chợt những sở thích của ông chuyển sang tennis. Trong thời gian tập luyện, mọi người đã gọi ông bằng cái tên “Cá Sấu”. Tên gọi vui này đã trở thành mẫu logo dễ dàng nhận diện nhất trên thế giới sau này. Một số nhà sử học trong thời trang cho rằng “Cá Sấu” là thương hiệu có biểu tượng đầu tiên gắn trên sản phẩm.

Vào năm 1926 và 1927, Lacoste được đứng ở vị trí số một thế giới trong làng tennis. Trong cả sự nghiệp, ông đã dành được 7 giải Grand Slam. Trong đó, 3 lần dành cúp Pháp mở rộng (1925, 1927, 1929), 2 lần vô địch giải Wimbledon (1926, 1928) và 2 lần chiến thắng tại Mỹ Mở Rộng (1926 và 1927). Ông cũng cùng đội Pháp chiến thắng giải Davis Cup vào năm 1927 và 1928.

(FILES) Fred J. Perry of England poses w

Cùng thời gian đó, ở phía bên kia eo biển Manche, tại vùng Portwood của nước Anh, Frederick John Perry được sinh ra vào năm 1909. Vầng hào quang của Tennis đã đến với Perry vào năm 1929, đúng vào năm mà Lacoste dành được giải Grand Slam cuối cùng trong sự nghiệp của mình và giải nghệ bởi căn bệnh hô hấp.

Fred Perry dành tổng cộng 8 giải Grand Slam với 3 chiến thắng liên tiếp tại Wimbledon từ 1934 đến 1936 và giữ vị trí số một thế giới trong vòng 4 năm liên tục. Perry là người Anh cuối cùng chiến thắng giải đơn nam Wimbledon (Andy Murray chiến thắng năm 2012 nhưng anh là người Scotland). Perry còn dành chức vô địch đại Úc Mở Rộng (1934), Pháp Mở Rộng (1935) và Mỹ Mở Rộng (1933, 1835 và 1936) và những chiếc cúp đã đưa ông vào sách lịch sử bởi là người đầu tiên dành cả 4 giải Grand Slam quan trọng.

Lacoste và Perry là hai nhân vật vĩ đai của tennis thế kỷ 20 nhưng đáng tiếc là họ chưa bao giờ chạm chán nhau. Nhưng trên đấu trường thời trang, những chiếc áo polo của họ chính là hai đối thủ sừng sỏ.

Sinh thời của chiếc áo Polo 

Polo Lacoste

Lacoste có kiến thức và học về kỹ sư chuyên nhành vì thế ông áp dụng những sáng kiến của mình cho thế giới thể thao. Ông là người sáng tạo ra cây vợt tennis kim loại đầu tiên, quả bóng tennis làm trên máy cũng do nghĩ ra và đặc biệt ông đã áp dụng chất liệu composite vào cây gậy đánh golf.

Nhưng với Lacoste, dòng sản phẩm quần áo mới chính là điểm biến ông thành người thành công nhất sau sự nghiệp thể thao. Ông là người đầu tiên mặc áo tay ngắn thay vì chiếc áo thùng thình truyền thống. Rene Lacoste không thích chiếc áo truyền thống và là người đầu tiên mặc chiếc áo polo ra sân quần tại giải Mỹ mở rộng năm 1926. Thiết kế của chiếc áo polo này đã khiến hiệp hội tennis tranh cãi một thời gian. Về tổng thế, nó đã giải quyết được việc khó cử động từ cánh tay dài của chiếc áo truyền thống, phần cổ dễ dàng hơn với hàng khuy, hơn nữa cổ có thể bẻ lên bẻ xuống để chống năng và đặc biệt loại vải có thể thở được giúp không khí có thể lưu thông.

Cảm thấy thị trường yêu thích loại áo này, Lacoste thành lập một công ty nhỏ chuyên về thời trang thể thao sau khi ông giải nghệ. La Societe Chemise Lacoste đã giới thiệu tới thế giới loại áo phông polo tay ngắn với chất liệu vài cotton có lỗ. Năm 1951, ông bắt đầu mở rộng thương hiệu ngoài tennis với các áo polo màu thay vì chỉ đơn thuần trắng. Cũng tại thời điểm này, ông bắt đầu đưa logo “cá sấu” vào bên ngực trái của tất cả sản phẩm và tiến vào thị trường Mỹ. Sự thành công của thương hiệu Lacoste được ghi nhận đạt đỉnh cao vào thâp niên 70 và 80.

polo-shirt-fred-perry-02

Cũng giống Lacoste, Fred Perry cũng là người cống hiến những sáng tạo của mình cho tennis. Ông là người đầu tiên tạo ra băng đeo tay thấm mồ hôi cùng với cầu thủ đá banh Tibby Wegner. Cuối thập niên 40, Perry bắt đầu sản xuất những chiếc áo polo giống như Lacoste. Ra mắt năm 1953 tại giải Wimbledon, chiếc áo tennis của Fred Perry nhanh chóng thành công. Chiếc áo polo trắng này chủ yểu được nhóm subculture yêu thích đặc biệt trong thập niên 60 và 70 khi các trao lưu như Mods, Skinheads rất chuộng sản phẩm của ông. Phần logo bên ngực trái được lấy biểu tượng vòng nguyệt quế, dựa trên biểu tượng nguyên bản của giải Wimbledon.

Cuộc sống sôi động và yên lặng

Fred Perry là một dân chơi thứ thiệt trong thời kỳ của ông. Bốn lần kết hôn, ông được công chúng biết đến đặc biệt với các cô đào Marlene Dietrich, Bette Davis và Loretta Young. Sự ăn chơi của Fred Perry còn khiến ông không được Câu lạc bộ Toàn Anh của Wimbledon chấp nhận làm thành viên.Tuy nhiên, những hoạt động và danh tiếng bên ngoài câu lạc bộ này mới chính là điểm để tên tuổi của ông tỏa sáng. Sau này, Fred Perry đã tham gia các lớp học về xã hội của Hoa Kỳ và cuối cùng ông đã trở thành một công dân của nước Mỹ.

Với cống hiến trong thể thao của Fred Perry, chỉ đến năm 1984, tức 11 năm trước khi Fred Perry ra đi mãi mãi (1995), Anh quốc mới công nhận đóng góp của ông và cho xây dựng tượng Perry tại khu Wimbledon.

Với Rene Lacoste, ông sống một cuộc sống âm thầm và yên lặng hơn rất nhiều. Ở cuối đời, Lacoste dành đam mê cho môn golf. Cô con gái Catherine của ông đã dành chức vô dịch giải Golf Mỹ Mở Rộng vào thập niên 60. Sau đó một vài năm, Lacoste phải chiến đấu với các vấn đề về bệnh tật, đặc biệt là căn bệnh ung thư. Một năm sau khi Fred Perry qua đời, 1996, Lacoste cũng ra đi trong giấc ngủ của mình.

Hai nhân vật vĩ đại của thể thao đã mang tennis lên một tầm cao mới và đã để lại cho chúng ta những chiếc áo huyền thoại mà ta vẫn mặc hàng ngày.

 

  • Volume 2. Page 20. Picture 11. Tennis: Rene Lacoste.
  • Polo Lacoste
  • Fred Perry
  • polo-shirt-fred-perry-02
  • (FILES) Fred J. Perry of England poses w

SHARE

COMMENTS